Đồng bằng sông Hồng – Wikipedia tiếng Việt

Các tiểu vùng ở Bắc Bộ Vị trí vùng Đồng bằng sông Hồng trên map Nước Ta

Đồng bằng sông Hồng (hay Châu thổ Bắc bộ) là khu vực hạ lưu sông Hồng và sông Thái Bình thuộc Bắc Bộ Việt Nam. Đồng bằng sông Hồng bao gồm 10 tỉnh thành, trong đó có 2 thành phố trực thuộc trung ương, 8 tỉnh và 12 thành phố thuộc tỉnh. Đây là vùng có mật độ dân số cao nhất Việt Nam (1.064 người/km2, dân số là 22 triệu người).[1]

Gần như đồng nghĩa tương quan với đồng bằng sông Hồng là vùng trung châu, khác với vùng chân núi ” trung du ” và núi cao ” thượng du “. Không giống như vùng Đồng bằng sông Cửu Long, những tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng chỉ có 2 tỉnh Tỉnh Thái Bình và Hưng Yên là không có núi, do đó khu vực này thường được gọi là ” châu thổ sông Hồng ” .

Danh từ Trung châu từng được dùng trong sử sách ngày xưa để chỉ định vùng bình nguyên này của miền Bắc. Công nghiệp đồng bằng hình thành sớm nhất Việt Nam và phát triển mạnh trong thời kì đất nước công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Vị trí, diện tích quy hoạnh[sửa|sửa mã nguồn]

Các tỉnh khu vực
Đồng bằng sông HồngĐồng bằng sông Hồng trải rộng từ vĩ độ 21 ° 34 ´ B ( huyện Lập Thạch ) tới vùng bãi bồi khoảng chừng 19 ° 5 ´ B ( huyện Kim Sơn ), từ 105 ° 17 ´ Đ ( huyện Ba Vì ) đến 107 ° 7 ´ Đ ( trên hòn đảo Cát Bà ). Toàn vùng có diện tích quy hoạnh 21.259,6 km², tỷ suất khoảng chừng 4,5 % tổng diện tích quy hoạnh cả nước .Phía bắc và hướng đông bắc là Vùng Đông Bắc ( Nước Ta ), phía tây và tây-nam là vùng Tây Bắc, phía đông là vịnh Bắc Bộ và phía nam vùng Bắc Trung Bộ. Đồng bằng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ những thềm phù sa cổ 10 – 15 m xuống đến những bãi bồi 2 – 4 m ở TT rồi những bãi triều hàng ngày còn ngập nước triều .

Đặc điểm tên gọi[sửa|sửa mã nguồn]

Các nhà nghiên cứu như Giáo sư Trần Quốc Vượng gọi vùng này là châu thổ Bắc bộ mà không gọi đồng bằng sông Hồng vì lý do:[2]

Toàn bộ miền đồng bằng sông Hồng nằm trên một lớp đá kết tinh cổ, loại nền đá ở vùng Đông Bắc. Cách đây 200 triệu năm, vào cuối đại Cổ sinh, lớp đá này bị sụt xuống. Vào thời đó, biển lên đến quá Việt Trì thời nay, tiến sát những vùng đồi Bắc Giang, Thành Phố Bắc Ninh, Phúc Yên, Nho Quan. Cửa sông Hồng lúc đó ở Việt Trì. Chế độ biển lê dài trên 170 triệu năm. Các trầm tích Neogen lắng xuống làm cho vịnh biển thu hẹp lại. Lớp trầm tích này có nơi dày đến 3000 mét. Trên cùng là lớp phù sa Holocen dày từ 80 đến 100 mét ở TT vùng đồng bằng sông Hồng, và càng xa TT thì càng mỏng mảnh dần .Trong đồng bằng sông Hồng có nhiều ô trũng tự nhiên, nổi bật là ô trũng Hà Nam Ninh, ô trũng Hải Hưng và ô trũng Nho Quan. Ngoài ra còn có rất nhiều đầm lầy. Trầm tích và phù sa do những sông luân chuyển ra khỏi lòng sông mỗi mùa lũ đã không lấp được những ô trũng và đầm lầy này do chúng quá xa sông hoặc do bị đê điều tự tạo ngăn cản. Việc những sông đổi dòng cũng tạo ra nhưng đầm lầy và ao hồ .
Dân số khu vực Đồng bằng sông Hồng lúc bấy giờ là 22 543 607 ( thống kê 1/4/2019 ) chiếm khoảng chừng 22 % tổng dân số cả nước, [ 5 ] trung bình khoảng chừng 1.060 người trên 1 km vuông. Đây là vùng có tỷ lệ dân số cao nhất cả nước. Đa số dân số là người Kinh, một bộ phận nhỏ thuộc Ba Vì ( Thành Phố Hà Nội ) và Nho Quan ( Tỉnh Ninh Bình ) có thêm dân tộc bản địa Mường .

  • Dân cư đông nên có lợi thế: Có nguồn lao động dồi dào, nguồn lao động này có nhiều kinh nghiệm và truyền thống trong sản xuất, chất lượng lao động cao. Tạo ra thị trường có sức mua lớn.
  • Tuy nhiên lại gây sức ép lớn cho tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm, xuất hiện nhiều vấn đề về chỗ ở, việc làm, tỉ lệ phạm luật và tệ nạn xã hội cao.
  • Chính sách: có sự đầu tư nhiều của Nhà nước và nước ngoài.
  • Có lịch sử khai phá lâu đời, là nơi tập trung nhiều di tích, lễ hội, làng nghề truyền thống… với 2 trung tâm KT-XH là Hà Nội và Hải Phòng.

Vùng đồng bằng sông Hồng có vị trí kế hoạch trong an ninh-quốc phòng. Hiện nay, vùng đồng bằng sông Hồng do Bộ tư lệnh Thủ đô TP.HN và Quân khu 2, Quân khu 1, Quân khu 3 bảo vệ .Quân đoàn 1, còn gọi là Binh đoàn Quyết Thắng, được xây dựng ngày 24 tháng 10, đóng tại thành phố Tam Điệp, Tỉnh Ninh Bình là một trong 4 quân đoàn nòng cốt ở Nước Ta .

Tài nguyên vạn vật thiên nhiên[sửa|sửa mã nguồn]

  • Diện tích đất nông nghiệp khoảng 760.000 ha, trong đó 100% là đất phù sa màu mỡ, có giá trị lớn về sản xuất nông nghiệp. Đất nông nghiệp chiếm 51,2% diện tích vùng.
  • Khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có mùa hè nóng ẩm nhưng mùa đông phi nhiệt đới lạnh và khô, làm cho cơ cấu cây trồng đa dạng. Tài nguyên khí hậu và thuỷ văn thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp. Thời tiết mùa đông rất phù hợp cho các cây trồng ưa lạnh
  • Tài nguyên nước phong phú, có giá trị lớn về kinh tế là hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Ngoài ra còn có nước ngầm, nước nóng, nước khoáng.
  • Tài nguyên biển: bờ biển dài 400 km, vùng biển có tiềm năng lớn để phát triển nhiều ngành kinh tế (đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, giao thông, du lịch)
  • Khoáng sản không nhiều, đáng kể nhất là trữ lượng than nâu trữ lượng dự tính là 8,8 tỉ tấn. Khí thiên nhiên được thăm dò và khai thác ở Tiền Hải – Thái Bình. Tuy nhiên, khoáng sản làm vật liệu xây dựng khá phong phú như đá vôi hàng tỉ tấn…

Cơ sở hạ tầng[sửa|sửa mã nguồn]

Kết cấu hạ tầng tăng trưởng mạnh ( giao thông vận tải, điện, nước … ) ,
Các ngành công nghiệp mà đồng bằng sông Hồng có là : luyện kim, cơ khí, hóa chất, vật tư kiến thiết xây dựng, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, nhiệt điện. Các ngành công nghiệp khai thác : khai thác khí dầu, khai thác đá vôi, khai thác cao lanh .

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng mạnh từ 18,3 nghìn tỷ đồng (1995) lên 55,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 21% cả nước.[cần dẫn nguồn] Những nơi có nhiều ngành công nghiệp tập trung nhất là Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh.

Tính đến cuối năm 2009 Lưu trữ 2010 – 08-12 tại Wayback Machine, vùng Đồng bằng sông Hồng có 61 Khu công nghiệp được xây dựng với tổng diện tích quy hoạnh đất tự nhiên trên 13.800 ha, trong đó có 9.400 ha đất công nghiệp hoàn toàn có thể cho thuê. So với cả nước, vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm 26 % về số lượng KCN và 23 % về diện tích quy hoạnh đất tự nhiên những KCN .

Đồng bằng sông Hồng là khu vực có đất đai trù phú, phù sa màu mỡ.
Diện tích và tổng sản lượng lương thực chỉ đứng sau Đồng bằng Sông Cửu Long nhưng là vùng có trình độ thâm canh cao, lâu đời.

Sản lượng lúa của khu vực tăng từ 44,4 tạ / ha ( 1995 ) lên là 58,9 tạ / ha ( 2008 )Không chỉ có sản lượng lúa tăng mà còn có một số ít lương thực khác như ngô, khoai tây, cà chua, cây ăn quả … cũng tăng về mặt sản lượng và cả chất lượng. Đem lại hiệu suất cao cho ngành kinh tế tài chính của vùng. Vụ đông trở thành vụ sản xuất chính .Nuôi lợn, bò và gia cầm cũng tăng trưởng mạnh của vùngVùng duyên hải Bắc Bộ gồm Hải Phòng Đất Cảng, Tỉnh Thái Bình, Tỉnh Nam Định và Tỉnh Ninh Bình nằm giáp biển, có nhiều cửa sông lớn đổ ra, thuận tiện tăng trưởng nghề nuôi trồng và đánh bắt cá thủy hải sản .
Đồng bằng sông Hồng là vùng có hạ tầng giao thông vận tải đồng điệu và thuận tiện, hoạt động giải trí vận tải đường bộ sôi sục nhất. Có nhiều đường tàu nhất đi qua những nơi khác nhau trong vùng .Đồng bằng sông Hồng có nhiều địa điểm du lịch như Tam Đảo, Hồ Tây, Chùa Hương, chùa Phật Tích, Tam Cốc – Bích Động, Côn Sơn, Phố Hiến, Cúc Phương, Tràng An, Chùa Bút Tháp, Cát Bà, Phủ Dầy, Đền Trần, Chùa Keo, Chùa Dâu, Đền Đô, Vườn vương quốc Xuân Thủy, biển Quất Lâm …Sân bay : trường bay lớn nhất nằm ở Nội Bài ( Thành Phố Hà Nội ). Cảng : có cảng Hải Phòng Đất Cảng lớn nhất nên Thành Phố Hà Nội và TP. Hải Phòng là 2 đầu mối quan trọng. Cảng sông quan trọng là cảng Ninh Phúc và cảng Tỉnh Nam Định .Bưu chính viễn thông tăng trưởng mạnh của vùng. TP. Hà Nội là TT thông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ tiên tiến, có nhiều kinh tế tài chính, ngân hàng nhà nước lớn nhất Nước Ta .

  • Địa hình thấp, có nhiều ô trũng, mùa mưa dễ gây ngập lụt kéo dài và cuốn trôi hoa màu;
  • Đất phía trong đê không được bồi đắp thường xuyên và đang dần thoái hóa, rìa đồng bằng đất bạc màu;
  • Phải chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc với những đợt giá rét, khí hậu nhiệt đới ẩm dễ phát sinh dịch bệnh như sốt xuất huyết và khó khăn trong bảo dưỡng máy mọc thiết bị sản xuất;
  • Nguồn tài nguyên trong khu vực hạn chế, phần lớn phải nhập khẩu nguyên nhiên liệu từ các vùng khác về.

[6]Các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng[sửa|sửa mã nguồn]

  • Mục dân số và diện tích ghi theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam trên trang Wikipedia tiếng Việt của các tỉnh thành Việt Nam.

Hiện nay, hầu hết những đô thị vốn trước kia là thị xã tỉnh lỵ của một tỉnh ở vùng đồng bằng sông Hồng đều đã trở thành những thành phố thường trực tỉnh ( ngoại trừ thành phố TP. Hà Nội và thành phố TP. Hải Phòng là hai thành phố thường trực Trung ương ). Trong đó, tỉnh Vĩnh Phúc có thành phố là Vĩnh Yên và Phúc Yên, tỉnh Thành Phố Hải Dương có hai thành phố là Thành Phố Hải Dương và Chí Linh, tỉnh Tỉnh Ninh Bình có hai thành phố là Tỉnh Ninh Bình và Tam Điệp .Trong suốt thời kỳ từ đầu năm 1945 cho đến năm 1993, toàn vùng đồng bằng sông Hồng chỉ có ba thành phố là TP. Hà Nội, TP. Hải Phòng và Tỉnh Nam Định. Từ năm 1997 đến nay, lần lượt những thị xã được tăng cấp trở thành những thành phố thường trực tỉnh .Các thành phố lập đến năm 1975 :

Các thành phố lập từ năm 1997 đến nay:

Hiện nay, ở vùng đồng bằng sông Hồng có 1 đô thị loại đặc biệt quan trọng : thành phố TP. Hà Nội ( thường trực Trung ương ) ; 4 đô thị loại I : thành phố Hải Phòng Đất Cảng ( thường trực Trung ương ), thành phố Tỉnh Nam Định ( thuộc tỉnh Tỉnh Nam Định ), thành phố TP Bắc Ninh ( thuộc tỉnh TP Bắc Ninh ), thành phố Thành Phố Hải Dương ( thuộc tỉnh Thành Phố Hải Dương ). Các thành phố là đô thị loại II : thành phố Tỉnh Thái Bình ( thuộc tỉnh Tỉnh Thái Bình ), thành phố Tỉnh Ninh Bình ( thuộc tỉnh Tỉnh Ninh Bình ), thành phố Vĩnh Yên ( thuộc tỉnh Vĩnh Phúc ), thành phố Phủ Lý ( thuộc tỉnh Hà Nam ). Các thành phố còn lại lúc bấy giờ đều là những đô thị loại III thường trực tỉnh .
Tính đến ngày 22 tháng 9 năm 2021, vùng Đồng bằng sông Hồng có :

Đánh giá post
0/5 (0 Reviews)

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *