Chiếm giữ sổ đỏ của người khác bị xử lý thế nào?

Hành vi giữ sổ đỏ ( giấy ghi nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và gia tài khác gắn liền với đất ) của người khác không đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo lao lý của Bộ luật Hình sự. Bởi lẽ, sổ đỏ không phải là gia tài có giá .

Sổ đỏ không phải tài sản

Điều 105 Bộ luật Dân sự năm ngoái pháp luật gia tài là vật, tiền, sách vở có giá và quyền gia tài .

Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Căn cứ Khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013 : “ Giấy ghi nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và gia tài khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tại, gia tài khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất ” .Như vậy, sổ đỏ không phải là tiền. Đó chỉ là sự xác nhận về quyền sử dụng đất của cá thể, tổ chức triển khai. Quyền sử dụng đất là quyền gia tài theo pháp luật tại điều 105 Bộ luật dân sự năm ngoái, Giấy ghi nhận quyền sử dụng đất không được coi là gia tài .Sổ đỏ chỉ là địa thế căn cứ để xác nhận quyền sử dụng đất. Theo đó, hành vi giữ sổ đỏ của người khác không đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo lao lý của Bộ luật Hình sự .

Nếu sổ đỏ bị chiếm giữ, có thể báo mất và làm lại

Trường hợp sổ đỏ bị chiếm giữ thì chủ sở hữu hoàn toàn có thể đến cơ quan Nhà nước báo mất và làm lại sổ đỏ khác theo lao lý pháp lý .Cụ thể là tại Điều 77 Nghị định 43/2014 / NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, có lao lý về cấp lại Giấy ghi nhận, Giấy ghi nhận quyền sở hữu nhà tại, Giấy ghi nhận quyền sở hữu khu công trình kiến thiết xây dựng do bị mất .

– Hộ gia đình và cá nhân, cộng đồng dân cư phải khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc bị mất Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp mất giấy do thiên tai, hỏa hoạn.

Tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức triển khai quốc tế, cá thể quốc tế, người Nước Ta định cư ở quốc tế phải đăng tin mất Giấy chứng nhận, Giấy ghi nhận quyền sở hữu nhà tại, Giấy ghi nhận quyền sở hữu khu công trình thiết kế xây dựng trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương .- Sau 30 ngày, kể từ ngày niêm yết thông tin mất Giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã so với trường hợp của hộ mái ấm gia đình, cá thể, hội đồng dân cư hoặc kể từ ngày đăng tin lần đầu trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương so với trường hợp của tổ chức triển khai trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức triển khai quốc tế, cá thể quốc tế, người Nước Ta định cư ở quốc tế, người bị mất Giấy chứng nhận nộp 01 bộ hồ sơ đề xuất cấp lại Giấy ghi nhận .

– Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với trường hợp chưa có bản đồ địa chính và chưa trích đo địa chính thửa đất; lập hồ sơ trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Nghị định này ký quyết định hủy Giấy chứng nhận bị mất, đồng thời ký cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã.

Đánh giá post
0/5 (0 Reviews)

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *